Latest
Câu chuyện
25 tháng 6 2026
Chủ quyền năng lượng và chương mới trong hành trình chuyển đổi của Việt Nam
Tìm hiểu thêm
Thông cáo báo chí
10 tháng 6 2026
TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐẾN THỊ TRƯỜNG: THÁO GỠ RÀO CẢN ĐỂ CÁC NHÀ KHOA HỌC NỮ BIẾN NGHIÊN CỨU THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG
Tìm hiểu thêm
Thông cáo báo chí
10 tháng 6 2026
Diễn đàn Xuất khẩu 2026: “Tăng cường hệ thống xuất khẩu nông sản cạnh tranh và định hướng thị trường”
Tìm hiểu thêm
Latest
Các Mục tiêu Phát triển Bền vững tại Việt Nam
Các Mục tiêu Phát triển Bền vững kêu gọi hành động toàn cầu nhằm xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và khí hậu trái đất và đảm bảo mọi người ở khắp mọi nơi có thể tận hưởng hòa bình và thịnh vượng. Đây là những mục tiêu mà Liên Hợp Quốc đang thực hiện ở Việt Nam.
Ấn phẩm
31 tháng 3 2026
2025 UNITED NATIONS IN VIET NAM ANNUAL RESULTS REPORT
"On its 80th anniversary of nationhood, 2025 marked a historic turning point for Viet Nam’s development trajectory. With preparations underway for the 14th National Party Congress Resolution, the country affirmed a bold, people‑centered vision for the 2026–2030 period—anchored in inclusive human development, deepening governance reforms, and large‑scale investments in innovation, green transformation, and digital advancement. This long‑term agenda reflects Viet Nam’s determination to safeguard development gains, strengthen resilience to emerging risks, and steadily advance toward its aspirational milestone of becoming a high‑income country by 2045.In this dynamic context, the United Nations Country Team (UNCT) in Viet Nam worked closely with the country’s government throughout 2025 to ensure that the UN development system is fit‑for‑purpose in responding to the nation’s evolving needs. Guided by the Secretary‑General’s UN80 initiative, the UNCT continued to enhance coherence, deliver as one, and ensure the multilateral system’s full potential was calibrated to drive momentum towards achievement of Viet Nam’s national priorities.As Viet Nam moves into a new phase of high ambition and strategic transformation, the UN stands ready to deepen its role as a trusted, forward‑looking partner. Together with the Government of Viet Nam, development partners, civil society, and communities, we will build on the momentum of 2025 to advance inclusive growth, climate‑resilient development, and Leave No One Behind—supporting Viet Nam’s steady progress towards becoming a sustainable, resilient, high‑income country by 2045."-- Extracted from Foreword by The Resident Coordinator Pauline Tamesis, 2025 United Nations in Viet Nam Annual Results Report
1 of 4
Ấn phẩm
28 tháng 11 2022
One Strategic Framework for Sustainable Development 2022-2026
The Government of the Socialist Republic of Viet Nam and the United Nations system in Viet Nam present the One Strategic Framework for Sustainable Development Cooperation between the Government of Viet Nam and the United Nations for the period 2022–2026 (Cooperation Framework, or CF, for short). The Cooperation Framework is the United Nations central framework for planning and implementing development activities at the country level. It articulates the United Nations collective framework of support to Viet Nam towards achieving the Sustainable Development Goals and national development priorities.
The Cooperation Framework is a commitment between the Government of Viet Nam and the United Nations to work together, and in partnership with broader society (non-governmental organizations, academia, the private sector and other development partners). The goal is to contribute towards an increasingly resilient Viet Nam that embraces the wellbeing of all people – particularly the most disadvantaged, an inclusive green economy and people-centred governance systems, and where people enjoy equal rights and opportunities. At the core of the framework is our pledge to leave no one behind and to respond to the needs of the most vulnerable people in Viet Nam
1 of 4
Ấn phẩm
20 tháng 1 2026
Applying Foresight to Curate a Care Economy for Older Persons in Viet Nam
This report is the result of an initiative applying strategic foresight to curate a care economy for older persons in Viet Nam. The initiative was led by the United Nations Resident Coordinator, with UNFPA, the United Nations Population Fund, serving as co-convenor and technical lead. Developed through close financial and technical collaboration between UNFPA and the United Nations Resident Coordinator’s Office (UNRCO), the report was prepared by a technical team comprising Ms Lan Pham (UNFPA Programme Specialist), Mr Minh Huu Doan (UNFPA Programme Analyst) and Mr Kongchheng Poch (UNRCO Economist), under the guidance of Mr Matthew Jackson (UNFPA Country Representative) and Ms Pauline Tamesis (United Nations Resident Coordinator). The report also benefited greatly from the substantive contributions of Mr Giang Thanh Long (Professor, National Economics University, Viet Nam) and Ms Aarathi Krishnan (Executive Director and Founder, RAKSHA Intelligence Futures).The team extends its sincere gratitude to current and future older persons and caregivers for their participation in the focus group discussions. Appreciation also goes to participants of the round-table dialogue, representing the Party and State entities, line ministries, United Nations agencies, development partners, older persons, caregivers, care service providers and academia. Their insights, inputs and feedback were invaluable in shaping the content and analysis of this report. The team also wishes to thank the International Labour Organization (ILO), the United Nations Entity for Gender Equality and the Empowerment of Women (UN Women), the United Nations Development Programme (UNDP), the United Nations Children’s Fund (UNICEF) and the World Health Organization (WHO) for their active participation and valuable contributions to this initiative. The findings, interpretations and conclusions presented in this report are those collected from the many participants and do not necessarily reflect the views and positions of UNFPA or United Nations Viet Nam.
1 of 4
Ấn phẩm
20 tháng 1 2026
Viet Nam 2045: Applying Strategic Foresight for Sustainable Growth
This strategic foresight report is the product of close cooperation between the United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (UNESCAP), the United Nations (UN) in Viet Nam and the National Institute for Economics and Finance (NIEF) under Viet Nam’s Ministry of Finance (MoF). UNESCAP and the UN in Viet Nam, in collaboration with NIEF, undertook this foresight study to inform the development of “Viet Nam 2045” – a visionary national plan intended to guide the country’s development over the next two decades.The report was prepared by a study team comprising Mr. Romano Theunissen, Strategic Foresight Consultant; Ms. Lin Zhuo, Economic Affairs Officer, UNESCAP; and Dr. Kongchheng Poch, Economist, UN Resident Coordinator’s Office in Viet Nam. The work was carried out under the overall guidance and leadership of Mr. Hamza Malik, Director of UNESCAP’s Macroeconomic Policy and Financing for Development Division, and Ms. Pauline Tamesis, United Nations Resident Coordinator in Viet Nam.The team extends its appreciation to the Ministry of Finance, particularly NIEF, for their strong collaboration throughout this process. The report has benefited considerably from the guidance and direction of NIEF’s leadership, especially Dr. Nguyen Quoc Truong, Vice President, and Dr. Tran Toan Thang, Head of the International Studies and Integration Policies Division.We would also like to express our sincere gratitude to all participants of the strategic foresight workshops from various MoF departments, UN agencies, research institutes and academic institutions, whose insights, comments and perspectives formed the basis of the analysis and content of the report. The team is particularly grateful to Mr. Nguyen Tuan Luong, UNDP Head of Solutions Mapping, Ms. Nguyen Thi Thanh An, UNICEF Social Policy and Governance Specialist, and Mr. Doan Huu Minh, UNFPA Programme Analyst, for their peer review, which was helpful for improving the report.The findings, interpretations and conclusions presented in this report reflect the inputs collected from workshop participants and do not necessarily represent the views or official positions of NIEF, UNESCAP or the United Nations in Viet Nam.
1 of 4
Câu chuyện
25 tháng 6 2026
Chủ quyền năng lượng và chương mới trong hành trình chuyển đổi của Việt Nam
Việt Nam đang bước vào một chương mới của quá trình chuyển đổi chính trị và thể chế. Sau Đại hội Đảng toàn quốc vào tháng 1, bầu cử Quốc hội vào tháng 3 và kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa mới vào tháng 4, một thế hệ lãnh đạo mới đã chính thức đảm nhận trọng trách điều hành đất nước. Trong khi bộ máy hành chính tiếp tục được hoàn thiện và đổi mới, một ưu tiên vẫn không thay đổi: cam kết chiến lược của Việt Nam trong duy trì tăng trưởng chất lượng cao đồng thời thúc đẩy các mục tiêu phát thải ròng bằng không và tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Những ưu tiên này đã được thể chế hóa trong các chính sách từ Trung ương đến địa phương và lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như các chương trình, kế hoạch quốc gia.Chủ quyền năng lượng trước sức ép ngày càng lớnTuy nhiên, ngay trong giai đoạn chuyển tiếp này, đội ngũ lãnh đạo mới đã phải đối mặt với một phép thử về chủ quyền năng lượng. Khi giá dầu thế giới vượt ngưỡng 100 USD/thùng vào đầu năm nay, người tiêu dùng Việt Nam chứng kiến giá nhiên liệu tăng mạnh: giá xăng đạt gần 35.000 đồng/lít vào tháng 3 năm 2026, trong khi giá dầu diesel vượt 42.000 đồng/lít vào đầu tháng 4 – tăng lần lượt 65% và 132% so với tháng 2. Những đợt tăng giá đột biến này, bắt nguồn từ bất ổn địa chính trị, đã bộc lộ sự phụ thuộc mang tính cấu trúc của Việt Nam vào nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch , đồng thời cho thấy sự cấp thiết của việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng.Báo cáo tháng 5/2026 của Bộ Công Thương (Báo cáo số 312/BC-BCT ngày 13/5/2026) đưa ra một cảnh báo sâu sắc hơn. Việt Nam đã trở thành quốc gia nhập khẩu năng lượng ròng từ năm 2015, với tỷ trọng nhập khẩu trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp tăng từ 8,5% lên gần 44% vào năm 2025 (53,6 triệu tấn dầu quy đổi - TOE). Dự báo cho thấy mức phụ thuộc này vẫn sẽ ở mức đáng kể, khoảng 27% vào năm 2045 (63,8 triệu TOE). Đồng thời, hệ thống điện cũng đang đối mặt với những hạn chế mang tính cấu trúc. Ngay cả khi tất cả các dự án năng lượng tái tạo trong Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII được triển khai đúng tiến độ, Việt Nam vẫn có thể thiếu hụt từ 14% đến 16% sản lượng điện thương phẩm vào năm 2030. Nếu chậm xử lý các điểm nghẽn về lưới điện hạn chế khả năng hấp thụ nguồn điện tái tạo, mức thiếu hụt có thể tăng lên tới 20%, thậm chí 28% trong những kịch bản bất lợi hơn.Từ phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch đến chuyển dịch năng lượng công bằngĐây không phải là những con số kỹ thuật khô khan, mà là lời cảnh báo về nền tảng của tăng trưởng trong tương lai. Bất ổn năng lượng đe dọa năng lực cạnh tranh công nghiệp, sự ổn định của chuỗi cung ứng và khả năng chống chịu của nền kinh tế vĩ mô. Việc phụ thuộc lớn vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu cũng khiến Việt Nam dễ bị tác động bởi những cú sốc bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát. Vì vậy, an ninh năng lượng không chỉ là vấn đề của riêng ngành năng lượng, mà đã trở thành một yếu tố cốt lõi của chủ quyền kinh tế quốc gia.Hướng đi phía trước ngày càng rõ ràng: tăng cường chủ quyền năng lượng đòi hỏi một sự chuyển dịch quyết liệt khỏi sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, hướng tới một hệ thống năng lượng đa dạng hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn và dựa nhiều hơn vào các nguồn cung trong nước.Điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, sử dụng năng lượng hiệu quả và hiện đại hóa lưới điện không còn là những lựa chọn bổ sung trong quy hoạch phát triển. Chúng là hạ tầng chiến lược cho khả năng chống chịu quốc gia. Tăng cường kết nối lưới điện và thương mại điện năng trong khu vực cũng có thể nâng cao tính linh hoạt của hệ thống và giảm thiểu tác động từ những biến động toàn cầu.Những rủi ro về năng lượng này không thể tách rời cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu đang gia tăng. Bằng chứng khoa học đã khẳng định rõ ràng: sự phụ thuộc kéo dài vào nhiên liệu hóa thạch là nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng nóng lên toàn cầu và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng nghiêm trọng. Trong bài phát biểu đặc biệt tại Tuần lễ Hành động Khí hậu London, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres đã chỉ rõ nguồn gốc của vấn đề và giải pháp cần thiết:"Thế giới của chúng ta đang đối mặt với Hai Cuộc Khủng Hoảng song hành: một bên là khủng hoảng khí hậu liên tục đẩy nhiệt độ Trái đất lên cao hơn, đưa chúng ta sát hơn tới những ngưỡng giới hạn sinh thái thảm khốc. Bên còn lại là cuộc khủng hoảng năng lượng, bộc lộ sự phi lý của một thế giới quá lệ thuộc vào nhiên liệu hydrocarbon. Nhìn bề ngoài, hai cuộc khủng hoảng này có vẻ tách biệt. Nhưng thực chất chúng có cùng một nguồn gốc tàn phá: nhiên liệu hóa thạch. Và chúng đòi hỏi cùng một câu trả lời: một quá trình chuyển đổi nhanh chóng, công bằng sang năng lượng sạch, cùng với việc tăng cường thích ứng, khả năng chống chịu và công bằng khí hậu cho những người đang phải gánh chịu tác động của biến đổi khí hậu."Đối với Việt Nam – một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu – những xu hướng toàn cầu này đang hiện hữu dưới những tác động rất cụ thể: bão mạnh và tàn phá nghiêm trọng hơn dọc duyên hải miền Trung; nước biển dâng đe dọa Đồng bằng sông Cửu Long cùng 17 triệu cư dân; hạn hán kéo dài ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp; và tình trạng nắng nóng cực đoan làm suy giảm năng suất lao động trong nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.Sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch gây ra biến động giá cả hôm nay cũng chính là yếu tố làm gia tăng các rủi ro khí hậu trong tương lai. Thoát khỏi sự phụ thuộc kép – vào các thị trường năng lượng toàn cầu đầy biến động và vào một quỹ đạo phát thải carbon không bền vững – không phải là sự đánh đổi giữa tăng trưởng và phát triển bền vững. Đó là con đường khả thi duy nhất để đạt được cả khả năng chống chịu lẫn thịnh vượng.Trong bối cảnh đó, lời kêu gọi hành động toàn cầu của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc – chấm dứt mở rộng nhiên liệu hóa thạch, tăng gấp ba công suất năng lượng tái tạo vào năm 2030 và cắt giảm nhanh lượng phát thải khí mê-tan – đặc biệt phù hợp với lộ trình phát triển hiện nay của Việt Nam. Những ưu tiên này hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu quốc gia về an ninh năng lượng, ổn định kinh tế và tăng trưởng bền vững.Hệ thống Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ với Chính phủ và các bên liên quan để chuyển hóa những mục tiêu toàn cầu đó thành hành động cụ thể. Điều này bao gồm huy động nguồn tài chính cho hạ tầng năng lượng tái tạo; tăng cường năng lực kỹ thuật cho phát triển điện gió ngoài khơi và điện mặt trời; hỗ trợ các lộ trình chuyển dịch công bằng cho người lao động và cộng đồng; đồng thời nâng cao khả năng chống chịu cho những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ triển khai Chiến lược Quốc gia về Biến đổi Khí hậu và Kế hoạch Hành động Quốc gia về Giảm phát thải khí mê-tan – hai trụ cột quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không vào năm 2050.Những diễn biến đầu năm 2026 – từ giá nhiên liệu tăng cao, áp lực lạm phát cho đến những lo ngại về độ tin cậy của hệ thống năng lượng – đã cho thấy tính cấp bách của quá trình chuyển đổi này. Đồng thời, chúng cũng mở ra một cơ hội quan trọng. Việt Nam không nên chờ đợi những cú sốc tiếp theo mới hành động. Khung chính sách đã có, tiềm năng năng lượng tái tạo rất lớn và các quan hệ đối tác quốc tế đang ngày càng vững mạnh. Điều cần thiết lúc này là tăng tốc triển khai với quy mô và tốc độ lớn hơn.Những tín hiệu tích cực đã xuất hiện. Từ ngày 1/6/2026, Việt Nam triển khai xăng sinh học E10 trên phạm vi toàn quốc, thay thế E5 RON92 và giảm khoảng 10% tỷ lệ nhiên liệu hóa thạch trong hỗn hợp xăng. Việc khuyến khích sử dụng dầu sinh học B5 và B10 cũng đang được thúc đẩy. Những bước đi này phản ánh nỗ lực đa dạng hóa nguồn năng lượng và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Tuy tính bền vững môi trường của nhiên liệu sinh học cần tiếp tục được đánh giá trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, đây là một tín hiệu chính sách quan trọng: tận dụng thách thức hiện tại để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu dài hạn.Chuyển dịch công bằng vì một tương lai bền vữngQuan niệm cho rằng phải lựa chọn giữa phát triển và hành động vì khí hậu là một ngộ nhận. Một quá trình chuyển dịch năng lượng công bằng sẽ đồng thời bảo đảm tăng trưởng, khả năng chống chịu và phát triển bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.Câu chuyện của Việt Nam phản ánh một trong những thách thức lớn nhất của thời đại chúng ta: làm thế nào để thúc đẩy phát triển mà không làm gia tăng tính dễ tổn thương, và làm thế nào để xây dựng thịnh vượng trong khi vẫn bảo vệ hành tinh. Những quyết định được đưa ra hôm nay sẽ định hình không chỉ quỹ đạo phát triển của mỗi quốc gia mà còn cả uy tín của các cam kết khí hậu toàn cầu.Với nền tảng chính sách vững chắc, tiềm năng năng lượng tái tạo dồi dào và sự đồng hành bền vững của các đối tác quốc tế, Việt Nam đang ở vị thế thuận lợi để biến những thách thức hiện nay thành cơ hội phát triển dài hạn. Liên Hợp Quốc cam kết tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong quá trình chuyển dịch công bằng hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không vào năm 2050 – hướng tới khả năng chống chịu cao hơn, chủ quyền vững chắc hơn và thịnh vượng chung cho mọi người.
1 of 5
Câu chuyện
12 tháng 6 2025
Xây dựng một Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu: Tăng cường vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp và lãnh đạo
Là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu, Việt Nam đang đối mặt với khủng hoảng khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Mực nước biển dâng cao cùng với các hiện tượng thiên tai cực đoan không chỉ đe dọa đến cảnh quan tươi đẹp của đất nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sinh kế của hàng triệu người dân – từ thành thị đến miền núi, ven biển. Đồng bằng sông Cửu Long – vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của cả nước – là minh chứng điển hình cho tính dễ bị tổn thương này khi thường xuyên phải đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn và mực nước biển dâng. Bão Yagi là một lời nhắc nhở khắc nghiệt khác về cuộc chiến không ngừng nghỉ của Việt Nam với các thảm họa do biến đổi khí hậu. Theo Báo cáo Đánh giá Đa ngành Quốc gia, cơn bão này đã gây thiệt hại trên diện rộng tại 26 tỉnh thành, cướp đi sinh mạng của 320 người. Ngành nông nghiệp – nguồn sống của phần lớn người dân nông thôn – chịu ảnh hưởng nặng nề, làm trầm trọng thêm những khó khăn kinh tế.Trong bối cảnh đó, phụ nữ là nhóm chịu tác động bất bình đẳng nhất. Trong chuyến thăm Cà Mau vào tháng 11 năm 2024, chị Nguyễn Thúy Huỳnh, 39 tuổi, nông dân ở xã Khánh Bình Tây chia sẻ: “Tôi phải tự gánh nước để tưới cây. Công việc này rất tốn thời gian và vất vả, nhất là vào mùa khô.” Ở nhiều gia đình nông thôn, việc tiếp cận nước sạch là cuộc vật lộn hằng ngày, và phụ nữ thường là người phải gánh vác trách nhiệm này. Bên cạnh đó, việc tiếp cận hạn chế với nguồn tài chính, công nghệ và quyền sở hữu đất đai khiến phụ nữ càng khó duy trì sinh kế trong nông nghiệp.Thực trạng ở Cà Mau cũng diễn ra tương tự ở nhiều vùng nông thôn khác trên cả nước.Phụ nữ đóng vai trò then chốt trong lĩnh vực nông nghiệp – một lĩnh vực dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu. Theo Khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam, 63% phụ nữ nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp, cao hơn so với tỷ lệ 58% ở nam giới. Đặc biệt, trong cộng đồng dân tộc thiểu số – nơi có tới 81% dân số làm nông – phụ nữ chiếm tỷ trọng lao động lớn. Tuy nhiên, họ lại thường thiếu các nguồn lực cần thiết để phục hồi sau các cú sốc khí hậu như lũ lụt, hạn hán, thiếu nước, đe dọa nghiêm trọng đến sinh kế. Do đó, việc nâng cao khả năng chống chịu khí hậu cho phụ nữ thông qua đào tạo, tiếp cận tín dụng và kỹ thuật canh tác bền vững là điều thiết yếu để đảm bảo an ninh lương thực và ổn định kinh tế. Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phụ nữ trong nông nghiệp, nhưng vẫn cần đầu tư thêm nguồn lực và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định. Các cam kết quốc tế như Cương lĩnh vàTuyên bố Hành động Bắc Kinh, Nghị quyết COP29 về Giới và Khí hậu, hay Tuyên bố châu Á - Thái Bình Dương về Bình đẳng giới đều nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết các thách thức riêng của phụ nữ và đảm bảo tiếng nói của họ trong các nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu.UN Women tại Việt Nam cùng Đại sứ quán Nhật Bản đang phối hợp chặt chẽ với Chính phủ nhằm tăng cường khả năng chống chịu khí hậu cho phụ nữ. Với nguồn tài trợ từ Nhật Bản, năm 2024, UN Women đã triển khai Dự án “Hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ dễ bị tổn thương tại Ninh Thuận và Cà Mau chịu ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn”. Dự án hướng đến cải thiện khả năng tiếp cận nước sạch cho phụ nữ và trẻ em. Ngoài ra, Nhật Bản còn phối hợp với IOM và UNICEF để xây dựng các công trình nước thiết yếu tại khu vực miền núi phía Bắc, bao gồm tỉnh Cao Bằng – địa phương bị thiệt hại nặng nề do bão Yagi. Tại Lào Cai và Đà Nẵng, các sáng kiến hợp tác giữa UN Women và Thụy Điển, New Zealand cũng đang mang lại kết quả rõ rệt. Các sáng kiến này không chỉ trao quyền cho phụ nữ thông qua việc tăng cường tiếng nói trong hoạch định chính sách, cung cấp công nghệ thông minh ứng phó khí hậu và đào tạo, mà còn cải thiện công tác ứng phó thiên tai dựa trên dữ liệu tách biệt theo giới và tích hợp phòng ngừa bạo lực giới. Các hội phụ nữ địa phương giữ vai trò trung tâm trong triển khai nhiều hoạt động thiết thực. Chị Pi Năng Thị Thiên, 38 tuổi, là mẹ đơn thân người dân tộc Raglai tại xã Phước Chiến, tỉnh Ninh Thuận – là một trong những người thụ hưởng từ dự án “Nước là Sự sống” do UN Women và Nhật Bản triển khai tại Ninh Thuận và Cà Mau. Dự án hỗ trợ thiết bị tưới tiêu tiết kiệm nước, giúp phụ nữ quản lý tài nguyên hiệu quả hơn. “Tôi không còn lo mất cả vườn cây ăn trái vì hạn nữa. Nhờ hệ thống tưới phun và máy bơm mà dự án hỗ trợ, tôi có thể kiểm soát việc tưới nước cho vườn dừa, mít, chuối, ngô và mía của mình,” chị chia sẻ.Những thay đổi tích cực trong sinh kế của các nữ nông dân như chị Thiên có được là nhờ vào vai trò lãnh đạo của chị Chamaléa Thị Liêm – Chủ tịch UBND xã Phước Chiến từ năm 2021. Sinh năm 1980, chị Liêm đã nỗ lực vận động mạnh mẽ để đưa dự án “Nước là Sự sống” triển khai nhanh chóng, chỉ đạo rõ ràng cho đội ngũ cán bộ địa phương và đảm bảo hỗ trợ kịp thời cho phụ nữ trong việc tưới tiêu nông nghiệp. Khả năng sử dụng thành thạo cả tiếng dân tộc Raglai lẫn tiếng Việt giúp chị truyền tải hiệu quả các thông tin và kết quả của dự án, mang lại thay đổi tích cực cho phụ nữ và trẻ em tại địa phương.Những câu chuyện này cho thấy công nghệ thích ứng khí hậu đang từng bước làm thay đổi cuộc sống của phụ nữ nông thôn, giúp giảm bớt gánh nặng lao động và bảo vệ sinh kế trước những tác động của biến đổi khí hậu.Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, việc trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái phải luôn là ưu tiên hàng đầu. Khả năng thích ứng thực sự không chỉ nằm ở công nghệ nông nghiệp thông minh – mà còn đòi hỏi sự tham gia đầy đủ và thực chất của phụ nữ trong việc xây dựng các chiến lược ứng phó khí hậu.Việt Nam đã chính thức công bố Kế hoạch Hành động Quốc gia về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh vào năm 2024. Đây là dấu mốc quan trọng trong thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trong lĩnh vực hòa bình và an ninh. Chúng tôi tin tưởng rằng sáng kiến hợp tác giữa UN Women và Nhật Bản là một bước tiến đầy ý nghĩa đối với Việt Nam. Bằng cách đầu tư vào sinh kế nông nghiệp và vai trò lãnh đạo của phụ nữ, chúng ta đang đầu tư cho một tương lai phát triển bền vững và thích ứng khí hậu – phù hợp với tầm nhìn dài hạn của đất nước.ITO Naoki là Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, và Caroline Nyamayemombe là Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam.
1 of 5
Câu chuyện
30 tháng 11 2024
Hướng tới một đáp ứng HIV bền vững cùng với cộng đồng, vì cộng đồng
Khi nguồn tài trợ quốc tế cho phòng, chống HIV bắt đầu giảm sút, các tổ chức cộng đồng của những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi HIV đã không ngần ngại đối mặt với thử thách này, nỗ lực tự vươn lên để đảm bảo rằng các giải pháp phòng, chống HIV do cộng đồng thúc đẩy không chỉ tiếp tục tồn tại, mà còn có thể phát triển hơn nữa.S Đỏ, một tổ chức cộng đồng (CBO) có trụ sở tại thành phố Cần Thơ, là một ví dụ điển hình về nỗ lực để thích ứng này, có thể được coi là mô hình thực hành tốt về tăng cường tính bền vững và đổi mới trong đáp ứng của cộng đồng với HIV ở Việt Nam.Một bước ngoặtĐược thành lập vào năm 2012 bởi và dành cho cộng đồng nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và cộng đồng người chuyển giới, S Đỏ khởi đầu là một sáng kiến nhỏ được hỗ trợ bởi các nhà tài trợ quốc tế nhằm cung cấp các dịch vụ tiếp cận cộng đồng, tư vấn và xét nghiệm HIV, là những dịch vụ quan trọng để phòng, chống HIV trong các nhóm cộng đồng yếu thế, có nguy cơ cao lây nhiễm HIV.Trong nhiều năm, các chương trình can thiệp phòng, chống HIV ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế như PEPFAR và Quỹ Toàn cầu. Các nguồn tài trợ này đã cung cấp tài chính cho nhiều loại thuốc, sinh phẩm và dịch vụ HIV thiết yếu như điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP), bộ dụng cụ và sinh phẩm tự xét nghiệm và hầu hết các hoạt động tư vấn, tiếp cận cộng đồng để cung cấp dịch vụ. Nhưng với việc Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nguồn tài trợ này đang giảm dần. Điều này đã khiến các tổ chức như S Đỏ đứng trước ngã ba đường: thích ứng với sự thay đổi hoặc có nguy cơ đánh mất những thành quả mà nhóm đã nỗ lực rất nhiều mới có được trong nâng cao năng lực cho bản thân và cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV.Đặng Quốc Phong, trưởng nhóm S Đỏ và tự nhận là một người phi nhị nguyên về giới, cho biết: “Khi nguồn tài trợ nước ngoài bắt đầu giảm sút, chúng tôi phải đưa ra lựa chọn: hoặc thu hẹp hoạt động hoặc tự tìm cách duy trì hoạt động. Chúng tôi luôn tin rằng các giải pháp phải đến từ chính cộng đồng, và chúng tôi đã lựa chọn cố gắng để tiếp tục phát triển”.Quyết định đa dạng hóaĐội ngũ quản lý S Đỏ bắt đầu đặt ra những câu hỏi không dễ trả lời: Làm thế nào để S Đỏ có ngân sách hoạt động mà không chỉ dựa vào các khoản tài trợ? S Đỏ có thể tận dụng những thế mạnh nào để tạo ra một tương lai bền vững hơn cho nhóm? -- S Đỏ đã nhìn vào chính cộng đồng của mình để tìm cảm hứng và ý tưởng phát triển bền vững. Thông qua công việc của mình, S Đỏ nhận thấy cộng đồng có nhiều nhu cầu về kỹ năng sống, đào tạo nghề và tư vấn về nhạy cảm giới – đây là một cơ hội để bắt đầu tạo nguồn thu nhập bền vững. Nhận thức này đã dẫn đến việc thành lập nhánh doanh nghiệp xã hội của nhóm S Đỏ, cung cấp các dịch vụ xây dựng, nâng cao năng lực như hội thảo tập huấn về kỹ năng giao tiếp, kỹ thuật tư vấn và cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV, xây dựng sản phẩm truyền thông. Khách hàng bao gồm các tổ chức quốc tế như Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Tổ chức Cứu trợ trẻ em quốc tế và các cơ quan địa phương như Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP Cần Thơ và Hội Phụ nữ, cũng như tổ chức các lớp đào tạo cho các thành viên cộng đồng đang tìm kiếm hỗ trợ về việc làm.Phong chia sẻ: “Đây là một nỗ lực, hướng đi mà đôi bên cùng có lợi. Sứ mệnh của chúng tôi luôn lấy phục vụ cộng đồng làm trọng tâm trong tất cả các việc chúng tôi làm. Chúng tôi đang xây dựng kỹ năng, năng lực trong cộng đồng, góp phần cải thiện cuộc sống của thành viên cộng đồng, đồng thời cũng tạo ra nguồn thu phục vụ cho hoạt động của nhóm.”Hiện nay, khoảng 30% chi phí hoạt động của S Đỏ đến từ doanh thu của các dịch vụ tập huấn nâng cao năng lực. Phần còn lại đến từ các khoản tài trợ ngắn hạn và trung hạn của các tổ chức quốc tế. S Đỏ tái đầu tư thu nhập của mình vào các dịch vụ xét nghiệm HIV miễn phí, tư vấn sức khỏe tâm thần và tiếp cận cộng đồng. Nhóm phân công công việc cho các thành viên theo các nhóm chuyên môn khác nhau, đảm bảo rằng hoạt động tạo thu nhập không ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ HIV và chăm sóc sức khỏe khác cho cộng đồng.Những thách thức trong quá trình đổi mớiChuyển sang mô hình tự chủ tài chính có không ít thách thức. Sau nhiều năm hoạt động như một nhóm cộng đồng và phi lợi nhuận dựa vào các khoản tài trợ, S Đỏ hiện nay phải học cách tạo ra doanh thu trong khi vẫn trung thành với sứ mệnh phục vụ cộng đồng của mình.Phong thừa nhận: “Lúc đầu, thật khó khi phải suy nghĩ theo hướng rằng chúng tôi sẽ trở thành một loại hình tổ chức nào đó khác với mô hình hoạt động phi lợi nhuận. Chúng tôi phải chấp nhận thay đổi tư duy và tìm hiểu, nỗ lực rất nhiều để trở thành một doanh nghiệp xã hội.”Cũng có những khó khăn, phức tạp khi tìm hiểu và tuân thủ các qui định pháp lý cũng như quản lý tài chính. Việc tìm hiểu và đáp ứng các quy định về thuế và báo cáo của nhà nước đòi hỏi dành rất nhiều thời gian và công sức. Phong cho biết: "Chúng tôi đã dành rất nhiều thời gian để học hỏi, tự nâng cao năng lực, trau dồi bản thân",Sức mạnh của hành động tập thểThành công của S Đỏ chính là nhờ vào tinh thần hợp tác. Là thành viên sáng lập của Mạng lưới CBO Đồng bằng sông Cửu Long, S Đỏ đã đóng vai trò chủ chốt trong việc tăng cường kết nối giữa các nhóm cộng đồng thông qua tư vấn kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm và các sáng kiến xây dựng năng lực.Ngoài các quan hệ đối tác ở ngay địa phương nơi nhóm hoạt động, S Đỏ còn hợp tác với các đơn vị, tổ chức trong và ngoài nước như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), cũng như các đối tác phát triển quốc tế khác. Hoạt động như một đơn vị tư vấn cộng đồng đáng tin cậy, S Đỏ giúp thiết kế và triển khai các chương trình phù hợp với cộng đồng MSM và người chuyển giới, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng phạm vi tiếp cận với cộng đồng.Phong chia sẻ thêm: “Sứ mệnh phục vụ cộng đồng của chúng tôi là quan trọng nhất. Thông qua hợp tác cùng phát triển, chúng tôi đang xây dựng một mạng lưới nhằm tạo ra sự thay đổi thực chất và lâu dài cho cộng đồng của mình”.Hội thảo tham vấn của UNAIDS giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về cộng đồng mìnhSự chuyển đổi của S Đỏ là một phần của một xu hướng thay đổi lớn hơn đang diễn ra trong ứng phó với HIV của Việt Nam. Vào tháng 8 năm 2024, Phong đã cùng các đại diện cộng đồng khác tham gia một hội thảo tham vấn cộng đồng do UNAIDS phối hợp với Cục phòng, chống HIV/AIDS tổ chức tại Hà Nội để thảo luận về giải pháp cho các tổ chức cộng đồng có thể duy trì hoạt động cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV trong bối cảnh tài trợ nước ngoài cho đáp ứng với HIV ngày càng giảm.Buổi tham vấn nhấn mạnh vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc thúc đẩy ứng phó với HIV. Các khuyến nghị chính của cộng đồng bao gồm tăng cường chia sẻ thông tin, dữ liệu về dịch HIV và sự hợp tác giữa cộng đồng và các cơ quan y tế; xây dựng cơ chế, chính sách để tổ chức cộng đồng có thể tiếp cận nguồn ngân sách để thực hiện cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV; nhân rộng mô hình phòng khám đa dịch vụ do cộng đồng quản lý; và đảm bảo có môi trường chính sách mang tính khuyến khích, có hướng dẫn rõ ràng để tăng cường vai trò của tổ chức cộng đồng trong đáp ứng với HIV. Những người tham gia thảo luận cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục được nhận các hỗ trợ kỹ thuật nhằm cải thiện năng lực quản lý tài chính và nâng cao chất lượng dịch vụ phòng, chống HIV cung cấp cho cộng đồng.Đối với Phong, hội thảo tham vấn là một hoạt động rất có ý nghĩa. Phong cho biết: “Hội thảo tham vấn là lời nhắc nhở rằng nhóm chúng tôi không đơn độc trong những gì chúng tôi đang làm. Qua hội thảo, chúng tôi thấy rằng những trải nghiệm và giải pháp của nhóm chúng tôi là một phần của một hướng đi lớn hơn cho các tổ chức cộng đồng tham gia phòng, chống AIDS”.Tầm nhìn cho tương laiTrong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thúc đẩy tính bền vững của công tác phòng, chống HIV/AIDS trong cả nước, bao gồm tính bền vững của đáp ứng với HIV do cộng đồng thúc đẩy, nhóm S Đỏ là một thực hành tốt về cách các tổ chức cộng đồng có thể chủ động, phát huy nội lực và đổi mới, để hợp tác và phát triển bền vững.Giám đốc quốc gia UNAIDS tại Việt Nam, ông Raman Hailevich, nhấn mạnh: “Nếu chúng ta không duy trì được các hoạt động phòng, chống HIV do cộng đồng thúc đẩy, chúng ta có nguy cơ thua cuộc trong cuộc chiến chống HIV và sẽ không đạt được mục tiêu chung là chấm dứt dịch bệnh AIDS. Nỗ lực chung của tất cả các bên liên quan gồm chính phủ, các tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ là vô cùng cần thiết để tiếp tục nâng cao năng lực và củng cố môi trường thuận lợi cho các tổ chức cộng đồng tham gia vào phòng, chống HIV/AIDS. Điều này rất quan trọng để xây dựng niềm tin trong quan hệ đối tác phòng, chống HIV, cung cấp nguồn lực và tạo điều kiện cho tổ chức cộng đồng của những người sống với HIV và người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV giúp họ có những đóng góp to lớn hơn, bền vững hơn cho ứng phó với HIV. Một đáp ứng bền vững với HIV cần được xây dựng và phát triển cùng với cộng đồng, vì cộng đồng, với sự hỗ trợ của tất cả các bên liên quan.”
1 of 5
Câu chuyện
30 tháng 11 2024
“Tôn trọng để dịch vụ chăm sóc sức khỏe dễ tiếp cận với người chuyển giới” – Tiếng nói của cộng đồng
"Tôi không hiểu. Em là nam hay nữ?”Những câu hỏi, nhận xét như vậy ở cơ sở y tế là lời nhắc nhở rõ ràng về sự phân biệt đối xử mà phụ nữ chuyển giới phải đối mặt. Đối với Tú Anh, một phụ nữ chuyển giới trẻ tuổi, và cộng đồng mà cô thuộc về, những tình huống trớ trêu như vậy không phải là hiếm. Người chuyển giới khi tiếp cận các dịch vụ y tế vẫn còn phải đối mặt với sự kỳ thị và cả những rào cản mang tính hệ thống khiến họ chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo nhu cầu.Cuộc sống của phụ nữ chuyển giớiTú Anh, một thành viên năng nổ trong cộng đồng các nhóm đích trẻ chịu ảnh hưởng nhiều bởi HIV cam kết góp phần tạo ra những thay đổi tích cực. Sinh ra và lớn lên vào cuối những năm 1990 ở miền Bắc Việt Nam, cô đã chứng kiến sự chật vật của phụ nữ chuyển giới trong cuộc sống, đặc biệt là những người xuất thân từ các tỉnh phía Bắc và là người dân tộc thiểu số. Họ bị thiệt thòi, chịu tổn thương nhiều hơn vì vừa phải đối mặt với các định kiến xã hội quanh mình, vừa có rất ít lựa chọn về các dịch vụ y tế.Sống đúng với con người thật của mình - chấp nhận bề ngoài phản ánh đúng bản dạng giới của họ thay vì giới tính khi sinh - khiến nhiều người chuyển giới phải chịu sự soi mói và phân biệt đối xử.Phân biệt đối xử tác động đến mọi khía cạnh trong cuộc sống của người chuyển giới, từ khả năng tìm việc làm ổn định, được đối xử tử tế đến tìm kiếm các dịch vụ y tế, sự công nhận của xã hội, và được bảo vệ tránh khỏi bạo lực giới. Theo Tú Anh, những khó khăn thách thức trong việc tìm kiếm công việc và có thu nhập ổn định khiến nhiều phụ nữ chuyển giới nhất là những người di cư tìm cách kiếm thu nhập để duy trì cuộc sống ở các cơ sở giải trí thậm chí làm mại dâm. Thật không may, sinh kế bấp bênh này khiến họ phải đối mặt với nhiều rủi ro, bao gồm bạo lực giới và bạo lực tình dục, nguy cơ lây nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục khác. Tài chính eo hẹp càng làm trầm trọng thêm những thách thức này, đẩy một số chị em chấp nhận quan hệ tình dục không an toàn như không dùng bao cao su để được trả nhiều tiền hơn, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và các rủi ro về sức khỏe khác.Tú Anh chia sẻ: "Tôi đã hỗ trợ nhiều chị em chuyển giới, vì khó khăn về kinh tế và bị kỳ thị giới nên đã phải chịu bạo lực về thể chất và tình dục. Nhiều chị em trong cộng đồng mang vết thương lòng và tâm lý mặc cảm rất sâu vì trải nghiệm bị chối bỏ và không thể sống trọn vẹn với bản dạng giới của mình".Nhận thức về SOGIE[1] trong bối cảnh chăm sóc sức khỏeCác cơ sở chăm sóc sức khỏe, vốn phải là điểm đến an toàn cho mọi người, nhưng có thể lại chính là nguyên nhân gây ra tâm lý căng thẳng và tổn thương cho phụ nữ chuyển giới. Những câu hỏi không cần thiết của các nhân viên y tế liên quan đến cá nhân, chẳng hạn như về bản dạng giới hoặc ngoại hình, làm tăng sự ngần ngại của người chuyển giới trong việc tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra, việc không có các giấy tờ xác nhận giới tính mong muốn đồng nghĩa với việc bản dạng giới của họ thường trái với giới tính được ghi trong các giấy tờ chính thức, dẫn đến việc nhiều người chuyển giới bị từ chối sử dụng dịch vụ.Tú Anh cho biết: “Chúng tôi mong muốn được đối xử như bất kỳ người dân nào khác”. Để góp phần hỗ trợ cộng đồng của mình, cô đã nỗ lực hoạt động trong mạng lưới hỗ trợ cộng đồng phụ nữ chuyển giới, kết nối phụ nữ chuyển giới với các phòng khám cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thân thiện và tôn trọng đối với người chuyển giới. Ngoài ra, cộng đồng đã huy động sự hỗ trợ và thành lập các phòng khám HIV được thiết kế để đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của phụ nữ chuyển giới cũng như hợp tác với Cục Phòng, chống HIV/AIDS cùng các đối tác phát triển để tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về SOGIE, qua đó nhân viên y tế được tiếp nhận thông tin và tương tác trực tiếp với đại diện cộng đồng để hiểu về SOGIE và cung cấp dịch vụ y tế phù hợp hơn với cộng đồng này, không phán xét và đảm bảo bảo mật thông tin.Tú Anh bày tỏ: “Chúng tôi rất hoan nghênh công văn chỉ đạo của Bộ Y tế gửi đến tất cả các cơ sở y tế gần đây khẳng định rằng đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (LGBT) là khuynh hướng tính dục và bản dạng giới tự nhiên khi sinh ra, không thể thay đổi và cũng không thể điều trị. Công văn cũng yêu cầu các cơ sở y tế trên cả nước cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người LGBT một cách tôn trọng và không phân biệt đối xử“ . Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng cũng còn rất nhiều các việc cần làm để có thể nâng cao nhận thức của nhân viên y tế nói chung về xu hướng tính dục, bản dạng giới và biểu hiện giới (SOGIE) trên quy mô rộng hơn để cung cấp dịch vụ y tế không phân biệt đối xử. Việc nâng cao nhận thức về SOGIE trang bị cho các nhân viên y tế kiến thức và tạo sự đồng cảm để hiểu và tôn trọng những nhu cầu đa dạng của người chuyển giới. Thông qua việc thúc đẩy môi trường dịch vụ y tế mang tính bao trùm, những người cung cấp dịch vụ y tế sẽ tạo được môi trường an toàn, thân thiện, và khuyến khích được người chuyển giới sẵn sàng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ y tế khi có nhu cầu, hướng đến mục đích cuối cùng là cải thiện kết quả sức khỏe cho người chuyển giới và cả cộng đồng.Cung cấp dịch vụ y tế mang tính bao trùm để người dân dễ tiếp cậnTú Anh nhấn mạnh: “Mọi người sẽ có sẵn sàng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ y tế nhiều hơn khi họ cảm thấy an toàn và được tôn trọng”.Trong Tháng Hành động Quốc gia về Phòng, chống HIV/AIDS năm nay (10/11/2024 – 10/12/2024), hướng đến Ngày Thế giới Phòng, chống AIDS, Tú Anh và các thành viên trong cộng đồng người chuyển giới mong chờ và kêu gọi có những thay đổi tích cực hơn cho cộng đồng người chuyển giới.Theo ông Raman Hailevich, Giám đốc Quốc gia UNAIDS tại Việt Nam, "Xây dựng một hệ thống chăm sóc sức khỏe mang tính bao trùm và tôn trọng là cần thiết để đảm bảo rằng mọi người dân, bất kể bản dạng giới hay xu hướng tính dục như thế nào, đều có cơ hội sống khỏe mạnh và có phẩm giá. Sự thay đổi có thể xảy ra khi cộng đồng, các cơ quan chức năng và người cung cấp dịch vụ y tế cùng nhau thúc đẩy và thực hiện mỗi ngày cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm. Để chấm dứt đại dịch AIDS như một mối nguy cho sức khỏe cộng đồng vào năm 2030, chúng ta cần đảm bảo tiếp cận công bằng tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mọi người dân."Đối với Tú Anh và nhiều người khác trong cộng đồng chuyển giới, hành trình để sống khỏe, sống là chính mình và không bị kỳ thị, phân biệt đối xử vẫn còn dài. Với sự hỗ trợ từ UNAIDS và các tổ chức quốc tế khác, và dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính phủ, những nỗ lực chung bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của người chuyển giới sẽ tiếp tục, hướng đến một tương lai mà người chuyển giới không còn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử trong các cơ sở y tế, để tiếp nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà họ cần và sống một cuộc sống khỏe mạnh hơn, trọn vẹn hơn.
[1]SOGIE: khuynh hướng tình dục, bản dạng và biểu hiện giới
[1]SOGIE: khuynh hướng tình dục, bản dạng và biểu hiện giới
1 of 5
Câu chuyện
29 tháng 11 2024
Giảm tác hại từ chemsex: Hỗ trợ của nhân viên tiếp cận cộng đồng
Trên đường phố đông đúc của Tp. Hồ Chí Minh, Lai (không phải tên thật), một nhân viên tiếp cận cộng đồng (NVTCCĐ) có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn HIV, đã trở thành một anh hùng thầm lặng trong việc thúc đẩy các dịch vụ giảm hại, bảo vệ sức khỏe cộng đồng liên quan đến một vấn đề mới nổi: chemsex.Chemsex là hành vi sử dụng chất kích thích khi quan hệ tình dục, diễn ra chủ yếu trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và người chuyển giới. Chemsex làm tăng các nguy cơ về sức khỏe do tác dụng tức thời của việc sử dụng chất kích thích, như quan hệ tình dục không an toàn, nguy cơ lây nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STI) cũng như các vấn đề về sức khỏe tâm thần[1].Hành trình của Minh đến với nhận thức và tiếp nhận hỗ trợLai lần đầu biết đến Minh thông qua một tin nhắn trên tài khoản mạng xã hội của mình. Anh sử dụng tài khoản này để tiếp cận những người MSM và người chuyển giới có các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV. Minh, sinh viên năm nhất đại học đến từ một tỉnh thành phía nam, tỏ ra lo lắng trong suốt cuộc trò chuyện với Lai."Em nghĩ rằng em đã phơi nhiễm HIV và cần được hỗ trợ xét nghiệm", Minh bày tỏ.Minh kể lại rằng những khó khăn về tài chính đã khiến Minh tham gia vào quan hệ tình dục có lợi ích, và đó là nơi Minh đã biết đến chemsex. Với ảnh hưởng của chất kích thích được cho dùng, Minh cảm thấy bất lực, không đủ tỉnh táo để tuân thủ giới hạn thường đặt ra cho bản thân, và bởi vậy có hành vi nguy cơ. Mặc dù Minh biết tầm quan trọng của bao cao su, nhưng các chất kích thích này thường khiến tâm trí Minh trở nên kém nhạy bén sau khi dùng, khiến Minh dễ chấp nhận và tham gia vào các hành vi có hại cho sức khỏe.Lai đã nhanh chóng tư vấn, xét nghiệm HIV cho Minh, sử dụng những kiến thức và kỹ năng đã được đào tạo và rèn luyện thực tế về tư vấn giảm hại liên quan đến HIV và chemsex. Khi xét nghiệm cho kết quả không phản ứng (âm tính với HIV), Lai tiếp tục trao đổi với Minh về sức khỏe tình dục và các biện pháp giảm hại, bao gồm cả các nguy cơ liên quan đến chemsex. Với sự đồng thuận của Minh, Lai đã lập tức hỗ trợ Minh tiếp cận thuốc điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) và đưa Minh đi làm các xét nghiệm kiểm tra để bắt đầu điều trị PrEP. Sự đồng hành của Lai đã giúp Minh nhanh chóng được uống thuốc dự phòng trước phơi nhiễm HIV – một biện pháp có hiệu quả rất cao trong phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường tình dục.Ba tháng sau đó, Minh vẫn đang tuân thủ tốt phác đồ điều trị PrEP và duy trì được tình trạng âm tính với HIV, đồng thời Minh cũng cho biết đã có thể kiểm soát tốt hơn cuộc sống của bản thân. Sự hỗ trợ liên tục của Lai không chỉ giúp Minh bảo vệ sức khỏe, mà còn giúp bạn lấy lại sự tự tin và tự chủ, có thể chủ động ra quyết định vể bản thân.Vai trò của nhân viên tiếp cận cộng đồng Trường hợp của Minh không phải là duy nhất. Chemsex đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Dữ liệu của Cơ quan Phòng chống Ma tuý và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) cho thấy sự gia tăng các vụ bắt giữ ma túy đá ở Việt Nam[2]; Theo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, MSM tham gia chemsex có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn 6-8 lần. Việc sử dụng chất kích thích trong hoạt động tình dục làm tăng sự lây lan của HIV và STI, là nguy cơ cho sức khỏe của các cá nhân và cả cộng đồng nói chung. Để ứng phó với vấn đề này, Bộ Y tế, UNAIDS và UNODC đã hợp tác chặt chẽ với các tổ chức cộng đồng và các nhà khoa học để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dự phòng HIV dựa trên bằng chứng khoa học cho những nhóm dân số có nguy cơ cao.Những NVTCCĐ tuyến đầu như Lai đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các tác hại cho sức khỏe do hành vi chemsex, là điểm đến đầu tiên của cộng đồng để hỗ trợ giải quyết những nhu cầu chăm sóc sức khỏe liên quan đến sử dụng chất kích thích, sức khỏe tình dục và dự phòng HIV. NVTCCĐ, với nhiệt huyết, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong tư vấn, đóng vai trò là cầu nối quan trọng giúp những người thuộc các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương tiếp cận dịch vụ mà họ cần. Người có hành vi chemsex thường che giấu do sợ bị kỳ thị, và phải dựa vào các NVTCCĐ để được tư vấn về nguy cơ, biện pháp giảm hại và chuyển gửi đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp và thân thiện.Tác động tích cực trong bảo vệ sức khỏe cho khách hàng mà Lai đạt được là kết quả của việc anh đã làm công tác tư vấn HIV nhiều năm và gần đây đã tham gia chương trình đào tạo thí điểm về can thiệp chemsex do Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) chủ trì, với sự hỗ trợ kỹ thuật của UNAIDS, UNODC và Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh. Sáng kiến này cung cấp cho NVTCCĐ thông tin, kiến thức chính xác và toàn diện cũng như các kỹ năng thực hành để tư vấn, đánh giá nguy cơ về chemsex, bao gồm dự phòng quá liều, các phương pháp giảm hại và hỗ trợ về sức khỏe tâm thần.Phương pháp tiếp cận lấy con người và cộng đồng làm trung tâm được sử dụng xuyên suốt trong sáng kiến này thông qua sự hợp tác, tham vấn với các NVTCCĐ như Lai và các thành viên cộng đồng khác trong tất cả các bước triển khai, từ thiết kế tài liệu đến xây dựng thí điểm các nội dung trong chương trình đào tạo. Phản hồi, góp ý của các thành viên cộng đồng có kinh nghiệm đã giúp việc xây dựng chương trình đào tạo thực sự hướng đến giải quyết nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những người bị ảnh hưởng bởi chemsex. Mối quan hệ hợp tác đối tác này thúc đẩy việc tạo dựng một ứng phó mang tính bao trùm hơn và tạo tác động lớn hơn đối với HIV và nguy cơ về sức khỏe khác liên quan đến chemsex.Xây dựng năng lực và hỗ trợ là ưu tiên để giải quyết vấn đề về y tế công cộngLai cho biết: “Dựa trên kinh nghiệm nhiều năm làm tiếp cận, tư vấn HIV, NVTCCĐ chúng tôi đang chứng minh rằng chúng tôi có thể giành chiến thắng ngay cả trong những trận chiến thầm lặng nhất. Để giải quyết các nguy cơ về sức khỏe liên quan đến chemsex, cần có một môi trường thuận lợi được các cơ quan chức năng và người dân tạo điều kiện để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ giảm hại. Các NVTCCĐ cũng cần được đào tạo, nâng cao năng lực thường xuyên để cập nhật kiến thức về chemsex và từ đó có thể cung cấp tư vấn, hỗ trợ phù hợp”.Việc tiếp tục củng cố một môi trường thuận lợi để cung cấp dịch vụ là vô cùng quan trọng. Điều này có nghĩa là tăng cường hơn nữa các hoạt động giảm kỳ thị, cung cấp dịch vụ không phân biệt đối xử và bảo vệ quyền của NVTCCĐ để họ có thể thực hiện vai trò của mình một cách hiệu quả. Vai trò lãnh đao của các cơ quan chức năng, sự ủng hộ của cộng đồng nói chung, các hoạt động xây dựng năng lực cho người cung cấp dịch vụ cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng y tế công là rất quan trọng đối với những nỗ lực này.Ts. Bs. Nguyễn Thị Minh Tâm, Trưởng phòng Dự phòng lây nhiễm HIV, Cục Phòng, chống HIV/AIDS cho biết “Liệu pháp tâm lý - một biện pháp giảm hại cho những người sử dụng ma túy dạng kích thích - đã được đưa vào Nghị định của Chính phủ năm 2024 về hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống HIV/AIDS. Đây là bước tiến mới nhất của chúng tôi trong việc tạo ra một môi trường thuận lợi để bảo vệ sức khỏe cho nhóm đối tượng đích này, sau khi đã có Hướng dẫn Quốc gia của Bộ Y tế về can thiệp dự phòng HIV cho người MSM tham gia chemsex”.Ông Raman Hailevich, Giám đốc Quốc gia của UNAIDS cho biết: “Chúng tôi cam kết tiếp tục hỗ trợ các nỗ lực của Việt Nam nhằm ngăn ngừa lây nhiễm HIV và giải quyết các nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác của những người có hành vi chemsex. Năm tới đây 2025, chúng tôi sẽ hỗ trợ hoàn thiện chương trình đào tạo này cho NVTCCĐ và sẽ phối hợp với UNODC để hỗ trợ tổ chức đào tạo giảng viên nguồn”.Những NVTCCĐ như Lai là nơi gửi gắm niềm tin cho những cá nhân đang bj ảnh hưởng bởi chemsex và đối mặt với nguy cơ về sức khỏe. Sự chia sẻ, tận tụy và cách tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm của họ đang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cho những nhóm dân số dễ bị tổn thương và thể hiện cam kết của các tổ chức cộng đồng đối với công tác bảo vệ sức khỏe người dân nói chung.
[1]UNAIDS và UNDOC (2024). Bộ công cụ về chemsex dành cho các nhà cung cấp dịch vụ lâm sàng Châu Á - Thái Bình Dương. Truy cập từ https://unaids-ap.org/wp-content/uploads/2024/11/chemsex-toolkit-for-clinical-service-providers-in-the-asia-pacific-khu vực_05112024.pdf [2] UNODC (2024). Ma túy tổng hợp ở Đông Á và Đông Nam Á: Những phát triển và thách thức mới nhất năm 2024. Truy cập từ https://www.unodc.org/roseap/uploads/documents/Publications/2024/Synthetic_Drugs_in_East_and_Southeast_Asia_2024.pdf
[1]UNAIDS và UNDOC (2024). Bộ công cụ về chemsex dành cho các nhà cung cấp dịch vụ lâm sàng Châu Á - Thái Bình Dương. Truy cập từ https://unaids-ap.org/wp-content/uploads/2024/11/chemsex-toolkit-for-clinical-service-providers-in-the-asia-pacific-khu vực_05112024.pdf [2] UNODC (2024). Ma túy tổng hợp ở Đông Á và Đông Nam Á: Những phát triển và thách thức mới nhất năm 2024. Truy cập từ https://www.unodc.org/roseap/uploads/documents/Publications/2024/Synthetic_Drugs_in_East_and_Southeast_Asia_2024.pdf
1 of 5
Thông cáo báo chí
10 tháng 6 2026
Diễn đàn Xuất khẩu 2026: “Tăng cường hệ thống xuất khẩu nông sản cạnh tranh và định hướng thị trường”
Diễn đàn quy tụ hơn 150 đại biểu đến từ các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm trao đổi các giải pháp thiết thực để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của hệ thống xuất khẩu nông sản Việt Nam trong bối cảnh thị trường toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng. Sự kiện diễn ra trong khuôn khổ Triển lãm Quốc tế lần thứ 6 về máy móc, thiết bị, vật tư, phân bón, hóa chất và nông sản Việt Nam, quy tụ hơn 300 doanh nghiệp đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chất lượng, đổi mới và định hướng thị trường là nền tảng của năng lực cạnh tranhPhát biểu khai mạc diễn đàn, bà Hoàng Mai Vân Anh, Điều phối viên Chương trình Tiêu chuẩn và Chất lượng Toàn cầu (GQSP) tại Việt Nam, UNIDO nhấn mạnh rằng thành công trong xuất khẩu ngày nay không còn được quyết định bởi một sản phẩm riêng lẻ mà bởi năng lực của toàn bộ chuỗi giá trị trong việc tạo ra giá trị, bảo đảm chất lượng, nâng cao hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu của thị trường. Theo bà, năng lực cạnh tranh bền vững cần được xây dựng trên nền tảng của chất lượng, đổi mới sáng tạo và một hạ tầng chất lượng quốc gia vững mạnh. UNIDO sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thông qua GQSP nhằm xây dựng hệ thống xuất khẩu nông sản cạnh tranh hơn, đổi mới hơn và định hướng thị trường hơn. Ông Meier Andri Fabian, Phó Trưởng Cơ quan Hợp tác Phát triển, Đại sứ quán Thụy Sĩ, cho rằng chất lượng không còn đơn thuần là lợi thế cạnh tranh mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để tiếp cận và duy trì vị thế trên thị trường quốc tế. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý sau thu hoạch, hệ thống chuỗi cung ứng lạnh, truy xuất nguồn gốc và việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao tính bền vững và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Ông Nguyễn Đức Long, Viện trưởng Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch (VIAEP), nhận định ngành nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển từ xuất khẩu dựa trên sản lượng sang xuất khẩu dựa trên giá trị; từ cung cấp nguyên liệu thô sang phát triển các sản phẩm chế biến; và từ cạnh tranh bằng chi phí sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và khả năng đáp ứng linh hoạt nhu cầu thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua phân tích thị trường và đáp ứng yêu cầu thị trườngCác bài trình bày chuyên đề tại diễn đàn tập trung vào những yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị trường cho nông sản Việt Nam. Các chuyên gia đến từ Đại học Queensland, SGS Việt Nam và GQSP Việt Nam đã chia sẻ những góc nhìn về cơ hội xuất khẩu thông qua phân tích thị trường hiệu quả, các yêu cầu về tuân thủ và truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu thị trường, cũng như các giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng xuất khẩu cạnh tranh.Các bài trình bày nhấn mạnh rằng việc tiếp cận thị trường quốc tế cần bắt đầu từ sự thấu hiểu nhu cầu khách hàng và xu hướng thị trường. Trong bối cảnh người tiêu dùng và nhà nhập khẩu ngày càng quan tâm đến chất lượng, tính minh bạch và tính bền vững, doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt thông tin thị trường, nâng cao năng lực tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật và đầu tư vào các hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.Xây dựng chuỗi giá trị xuất khẩu nông sản có khả năng chống chịuMột trong những nội dung trọng tâm của diễn đàn là phiên tọa đàm “Cạnh tranh toàn cầu: Xây dựng chuỗi giá trị xuất khẩu nông sản có khả năng chống chịu”, do ông Đỗ Quang Huy, Cán bộ Chương trình Cấp cao, Đại sứ quán Thụy Sĩ điều phối.Phiên tọa đàm quy tụ đại diện các cơ quan quản lý, doanh nghiệp xuất khẩu, các công ty logistics và chuyên gia chuỗi giá trị nhằm trao đổi về những thách thức đang ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của xuất khẩu nông sản Việt Nam trong bối cảnh thị trường toàn cầu nhiều biến động. Các đại biểu đã thảo luận về các chiến lược phát triển cơ hội thị trường, đặc biệt tại các thị trường mới nổi và phân khúc cao cấp; kỳ vọng ngày càng cao của người mua và nhà bán lẻ đối với chất lượng, truy xuất nguồn gốc, bao bì và tính tuân thủ; cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả logistics và giảm chi phí chuỗi cung ứng. Phiên tọa đàm cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết giữa nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà bán lẻ và các đơn vị cung cấp dịch vụ, đồng thời thúc đẩy hợp tác công – tư nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường và nâng cao hiệu quả xuất khẩu.Hướng tới hệ thống xuất khẩu nông sản cạnh tranh và định hướng thị trườngPhát biểu bế mạc diễn đàn, bà Đinh Thị Tám, Phó Viện trưởng Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch (VIAEP), cho biết Diễn đàn Xuất khẩu 2026 đã mang đến một cách tiếp cận mới, đặt trọng tâm vào việc xây dựng một hệ thống xuất khẩu nông sản cạnh tranh và định hướng thị trường thay vì chỉ tập trung vào tăng trưởng xuất khẩu hay mở rộng thị trường. Bà nhấn mạnh rằng thành công trong xuất khẩu không còn được quyết định bởi một sản phẩm riêng lẻ hay lợi thế về chi phí, mà bởi năng lực của cả chuỗi giá trị trong việc tạo ra giá trị, bảo đảm chất lượng, nâng cao hiệu quả và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Những trao đổi tại diễn đàn một lần nữa khẳng định vai trò của chất lượng, tiêu chuẩn, đổi mới sáng tạo, logistics, truy xuất nguồn gốc và sự liên kết giữa các bên trong chuỗi giá trị đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Đây sẽ là những yếu tố then chốt để xây dựng một hệ thống xuất khẩu nông sản cạnh tranh hơn, định hướng thị trường hơn và phát triển bền vững hơn trong tương lai. Thông tin liên hệ:● Chị Nguyễn Ngọc Dung, email: n.nguyen3@unido.org, SDT: 0906101458● Anh Bùi Tiến Thành, email: brian.bui@veas.com.vn, SDT: 0965626598
1 of 5
Thông cáo báo chí
10 tháng 6 2026
TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐẾN THỊ TRƯỜNG: THÁO GỠ RÀO CẢN ĐỂ CÁC NHÀ KHOA HỌC NỮ BIẾN NGHIÊN CỨU THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG
Hội thảo do Hội Nữ trí thức Việt Nam phối hợp với UN Women tổ chức nhằm thúc đẩy các giải pháp giúp các nhà khoa học nữ đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đóng góp cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số của Việt Nam.Mặc dù phụ nữ chiếm 46% lực lượng nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt vẫn gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chỉ đạt 25,5%, trong khi tỷ lệ phụ nữ được cấp bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng chỉ dao động từ 13–20%.Tại hội thảo, các đại biểu nhấn mạnh rằng thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở việc tạo ra tri thức mới, mà còn ở việc giúp các nhà khoa học nữ tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đưa tri thức đó vào cuộc sống. Nhiều nữ nhà khoa học vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp, dịch vụ tư vấn thương mại hóa, cơ hội hợp tác với doanh nghiệp và các mạng lưới đổi mới sáng tạo.Trên thế giới, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa thường được gọi là “Thung lũng chết” (Valley of Death) – giai đoạn mà nhiều sáng kiến đầy tiềm năng không thể phát triển thành sản phẩm hoặc giải pháp thương mại. Đối với các nhà khoa học nữ, khoảng cách này thường rộng hơn do các rào cản giới trong tiếp cận tài chính, cơ hội lãnh đạo, mạng lưới nghề nghiệp và gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công.Các đại biểu khẳng định rằng việc hỗ trợ các nhà khoa học nữ tiếp cận thị trường không chỉ là vấn đề bình đẳng giới mà còn là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, đây không chỉ là thách thức đối với các nhà khoa học nữ mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển của quốc gia.Các kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại hội thảo từ Canada, Phần Lan, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Australia và Colombia cho thấy những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thành công đều có cơ chế kết nối hiệu quả giữa nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan hoạch định chính sách. Đây cũng là những yếu tố then chốt giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.Phát biểu tại Hội thảo, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam nhấn mạnh:“Bình đẳng giới không chỉ là một yêu cầu về công bằng xã hội mà còn là một yêu cầu về phát triển kinh tế. Hãy cùng chung tay xây dựng một hệ sinh thái nơi không một tài năng nào bị lãng phí, không một sáng kiến nào bị bỏ lại phía sau, và mọi nhà khoa học nữ đều có cơ hội đóng góp trọn vẹn cho tương lai xanh và số của Việt Nam.”GS.TS. Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam cho rằng:“Các nhà khoa học nữ Việt Nam đã chứng minh năng lực, sự sáng tạo và khả năng thích ứng của mình. Điều cần thiết hiện nay là một hệ sinh thái mạnh mẽ hơn để kết nối khoa học với đầu tư, nghiên cứu với doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo với thị trường.”Kết thúc hội thảo, các đại biểu kêu gọi tăng cường đầu tư vào các chương trình hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt; mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính, cố vấn và kết nối thị trường; đồng thời xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện và bao trùm hơn, nơi các nhà khoa học nữ có thể phát triển các ý tưởng nghiên cứu thành những giải pháp tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cho Việt Nam.
1 of 5
Thông cáo báo chí
20 tháng 4 2026
UNIDO và Việt Nam ký kết Chương trình Hợp tác Quốc gia về thúc đẩy công nghiệp xanh, tuần hoàn và toàn diện
Chương trình được ký kết giữa Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương và ông Gerd Müller, Tổng Giám đốc UNIDO, tại lễ ký tổ chức ở Hà Nội, với sự tham dự của các đại diện đến từ UNIDO, các Bộ Ngoại giao, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Khoa học và Công nghệ; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; lãnh đạo các địa phương Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh; các đối tác phát triển và Điều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc. Phát biểu tại sự kiện, ông Müller cho biết UNIDO và Việt Nam đã có hơn bốn thập kỷ hợp tác chặt chẽ. Trong thời gian qua, quan hệ hợp tác giữa hai bên đã phát triển từ những dự án riêng lẻ sang danh mục các giải pháp tích hợp, có khả năng nhân rộng, kết hợp giữa tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và huy động đầu tư. Trong thời gian tới, hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác nhằm phát triển một nền công nghiệp hiện đại, có năng lực cạnh tranh và bền vững tại Việt Nam. Thông qua Chương trình Hợp tác Quốc gia mới, UNIDO sẽ hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi công nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và toàn diện, qua đó gia tăng giá trị trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh.Thứ trưởng Trần Quốc Phương nhấn mạnh Chương trình Hợp tác Quốc gia là khuôn khổ hợp tác rõ ràng, phù hợp với Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam; đồng thời góp phần hỗ trợ Việt Nam thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, cũng như thúc đẩy lộ trình đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Chương trình Hợp tác Quốc gia Việt Nam – UNIDO giai đoạn 2025-2028, với ngân sách dự kiến 72 triệu USD, tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên: chuyển đổi sang công nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn; nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp và phát triển chuỗi giá trị bền vững; tăng cường chính sách công nghiệp, năng lực thể chế và quan hệ đối tác.UNIDO đã phối hợp với Việt Nam triển khai hơn 170 dự án kể từ năm 1978 trong các lĩnh vực như phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng chất lượng, hiệu quả năng lượng, sản xuất sạch và chuỗi cung ứng bền vững. Trên cơ sở đó, trong khuôn khổ Chương trình mới, hợp tác giữa hai bên sẽ tiếp tục được mở rộng thông qua các chương trình, hoạt động can thiệp mang tính tổng thể, kết hợp tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và huy động đầu tư.Chương trình cũng mở ra những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghiệp chế biến nông sản, đặc biệt đối với các chuỗi giá trị có tiềm năng như lúa gạo và chè, tập trung vào gia tăng giá trị, đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và cải thiện sinh kế khu vực nông thôn.Hoạt động ký kết Chương trình tiếp tục khẳng định vai trò của điều phối hiệu quả, sự chủ động của Chính phủ và việc huy động nguồn lực chung nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả, mang lại kết quả phát triển thiết thực.Trong thời gian tới, UNIDO và Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp thúc đẩy phát triển công nghiệp theo hướng đổi mới, toàn diện và bền vững, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế và hướng tới thịnh vượng chung. Để biết thêm thông tin, xin liên hệ:Jie ZHAOTrưởng Ban Khu vực châu Á – Thái Bình DươngTổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO)Email: j.zhao@unido.org
1 of 5
Thông cáo báo chí
19 tháng 12 2025
Việt Nam: Kế hoạch Ứng phó Chung xác định lộ trình phục hồi
Kể từ đỉnh điểm của các đợt lũ vào tháng 10, Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam đã tăng cường phối hợp triển khai các nỗ lực nhân đạo và phục hồi thông qua Kế hoạch Ứng phó Chung (JRP), dựa trên các đánh giá nhu cầu chung.Nhằm bảo đảm hoạt động ứng phó tiếp tục phù hợp với diễn biến tình hình tại các tỉnh bị ảnh hưởng, Phụ lục bổ sung của Kế hoạch Ứng phó Chung năm 2025 đã được công bố sáng nay tại một sự kiện tổ chức tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Phụ lục cập nhật của JRP kêu gọi khẩn cấp 96,2 triệu USD để cung cấp hỗ trợ cứu sinh và phục hồi cho 1,4 triệu người tại các tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề ở khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam. “Tôi tin tưởng rằng Kế hoạch Ứng phó Thiên tai Chung năm 2025 sẽ đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu của Việt Nam trước những thách thức ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu và thiên tai,” ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Đê điều và Phòng, chống thiên tai (VDDMA), Bộ Nông nghiệp và Môi trường (MAE) cho biết.Phụ lục JRP thể hiện sự tiếp nối quan hệ đối tác chặt chẽ giữa Chính phủ, Liên Hợp Quốc cùng các đối tác trong nước và quốc tế trong việc cùng nhau xác định những nhu cầu nhân đạo và phục hồi cấp thiết nhất của người dân bị ảnh hưởng, đồng thời định hướng cho lộ trình xây dựng khả năng chống chịu dài hạn và phục hồi thích ứng với khí hậu. “Các nỗ lực của chúng tôi cũng sẽ tập trung vào việc tăng cường năng lực quản lý rủi ro thiên tai ở cấp cộng đồng, hỗ trợ Chính phủ nâng cao hệ thống cảnh báo sớm, cũng như thúc đẩy chuyển đổi số nhằm cải thiện công tác sẵn sàng ứng phó với thiên tai,” bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, cho biết.“Vượt ra ngoài hỗ trợ khẩn cấp, Kế hoạch Ứng phó Chung được cập nhật đã vạch ra một lộ trình phục hồi rõ ràng. Thông qua các sáng kiến này, Việt Nam sẽ có thêm năng lực để ứng phó hiệu quả hơn với những thách thức ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu gây ra.”---END--- Liên kết và tài liệu tham khảo:The JRP AddendumThe 2026 Global Humanitarian OverviewLiên hệ báo chí:Trịnh Anh Tuấn, Chuyên gia Truyền thông và Vận động Chính sách Cao cấp, Văn phòng Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam
Email: tuan.trinh@un.org Heber Rocha Costa, Cán bộ phụ trách các vấn đề nhân đạo, OCHA
Email: heber@un.org
Email: tuan.trinh@un.org Heber Rocha Costa, Cán bộ phụ trách các vấn đề nhân đạo, OCHA
Email: heber@un.org
1 of 5
Thông cáo báo chí
18 tháng 9 2025
Dự án toàn cầu nhằm trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái thông qua võ thuật và thể thao Việt Nam
Sự kiện này đưa Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên có Liên đoàn thể thao võ thuật quốc tế đặt trụ sở tại khu vực Đông Nam Á chính thức tham gia phong trào Guardian Girls toàn cầu. Cùng với Việt Nam, GGI đã triển khai dự án tại 22 quốc gia khác trên khắp 5 châu lục nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và phòng ngừa bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (VAWG). GGV là dự án trọng điểm của GGI, một tổ chức phi chính phủ quốc tế trực thuộc Quỹ quốc tế Koyamada (KIF). Dự án được triển khai độc quyền thông qua hợp tác với WVVF và mạng lưới hơn 60 Liên đoàn Vovinam các nước trên toàn cầu. Dự án khai thác sức mạnh của Vovinam, môn võ truyền thống của Việt Nam - không chỉ là kỹ năng chiến đấu kết hợp đòn đánh và đòn khóa, mà còn là biểu tượng của sức mạnh thể chất gắn liền với chiều sâu triết lý và bản sắc văn hóa Việt.Tại sự kiện, ông Shin Koyamada, Đồng sáng lập kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị GGI và Tiến sĩ Mai Hữu Tín, Chủ tịch Liên đoàn Vovinam Thế giới (WVVF), đã ký kết Biên bản Ghi nhớ (MOU), chính thức khởi động triển khai dự án GGV tại Việt Nam và trên thế giới. Sự kiện có sự tham dự và ủng hộ mạnh mẽ của đại diện UNFPA Việt Nam, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam và KIF Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.“Hành trình này mang ý nghĩa đặc biệt khi bắt đầu từ Việt Nam, quê hương của Vovinam, nơi văn hóa, truyền thống và tinh thần kiên cường hòa quyện trong bản sắc dân tộc. Đây không chỉ là câu chuyện về võ thuật hay thể thao, mà còn là con đường dẫn đến sự thay đổi, khẳng định giá trị bản thân và quyền tự do sống mà không sợ hãi.” ông Shin Koyamada, Đồng sáng lập kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị GGI chia sẻ.“WVVF tự hào phối hợp với GGI để lan tỏa những nguyên tắc bình đẳng, an toàn và tôn trọng trong cộng đồng Vovinam toàn cầu,” Tiến sĩ Mai Hữu Tín, Chủ tịch Liên đoàn Vovinam Thế giới, phát biểu. “Dự án mang đến một cách tiếp cận mới để đưa võ cổ truyền Việt Nam phục vụ cộng đồng một cách sâu sắc và nhân văn.” “Tại UNFPA, chúng tôi tin rằng các giải pháp bền vững để chấm dứt bạo lực giới cần được xây dựng trên nền tảng văn hóa bản địa, do cộng đồng dẫn dắt và có sự phối hợp đa ngành,” ông Matt Jackson, Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam nhấn mạnh. “Guardian Girls Vovinam là minh chứng rõ nét cho nhìn đó, khi võ thuật truyền thống của Việt Nam được vận dụng để trang bị cho phụ nữ và trẻ em gái sự tự tin, những kỹ năng thiết thực và khả năng tự chủ. UNFPA tự hào kết nối và phối hợp cùng các đối tác trong nước và quốc tế để lan tỏa những sáng kiến đổi mới vì một xã hội an toàn, bình đẳng và không còn bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái.” “Nhật Bản luôn cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và phòng ngừa bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái,” Ngài Naoki Ito, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, nhấn mạnh. “Năm 2021, thông qua hợp tác với UNFPA, chúng tôi đã hỗ trợ thành lập và vận hành ba Trung tâm Dịch vụ một cửa, được biết đến với tên gọi Ngôi Nhà Ánh Dương hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái bị bạo lực giới tại Thanh Hóa, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Ngày hôm nay, khi đồng hành cùng dự án Guardian Girls Việt Nam, chúng tôi tiếp tục khẳng định cam kết đó, đồng thời tôn vinh sự đổi mới và gìn giữ truyền thống. Thông qua võ Vovinam, một môn võ truyền thống của Việt Nam, sáng kiến này phản ánh những giá trị chung mà Nhật Bản và Việt Nam cùng theo đuổi trong việc thúc đẩy quyền, an toàn và sự phát triển toàn diện cho phụ nữ và trẻ em gái.” Thông tin bổ sung cho báo chí:Về Guardian Girls Vovinam (GGV):Trong khuôn khổ dự án GGV, các huấn luyện viên nữ được chứng nhận và đào tạo theo chương trình chuẩn sẽ trực tiếp tổ chức hội thảo, lớp học và hoạt động giáo dục tại cộng đồng ở nhiều quốc gia. Mục tiêu là trang bị cho phụ nữ và trẻ em gái kỹ năng tự vệ thực tế, kiến thức phòng ngừa bạo lực giới, và sự tự tin để khẳng định quyền và năng lực của mình. Dự án trực tiếp đóng góp vào Mục tiêu Phát triển Bền vững số 5 của Liên Hợp Quốc (Bình đẳng giới), tích hợp thể thao với tác động xã hội, an toàn và gắn kết cộng đồng.Về Guardian Girls International (GGI):GGI là một tổ chức phi chính phủ toàn cầu do diễn viên, nhà sản xuất, doanh nhân Shin Koyamada (nổi tiếng với vai diễn trong bộ phim Hollywood The Last Samurai) và bà Nia Lyte, nhà hoạt động vì quyền phụ nữ và doanh nhân xã hội, đồng sáng lập. GGI cam kết thúc đẩy bình đẳng giới và ngăn ngừa bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái thông qua trao quyền bằng thể thao, đối thoại văn hóa, giáo dục và gắn kết cộng đồng. Tổ chức hợp tác với các liên đoàn thể thao quốc tế, các cơ quan Liên Hợp Quốc, chính phủ, tổ chức phi chính phủ và các cơ sở giáo dục trên toàn thế giới.Về Liên đoàn Vovinam Thế giới (WVVF):Thành lập năm 2008, WVVF là cơ quan quản lý quốc tế chính thức của môn võ Vovinam. Liên đoàn tập trung vào quảng bá toàn cầu, tổ chức thi đấu chuẩn hóa và giáo dục văn hóa, đồng thời hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam và các cơ quan thể thao quốc gia. WVVF hiện có 61 Liên đoàn thành viên trên khắp các châu lục, với khoảng 2 triệu môn sinh, khẳng định sức ảnh hưởng toàn cầu.Về UNFPA tại Việt Nam:UNFPA - Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc là cơ quan Liên Hợp Quốc chuyên trách về sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản. UNFPA đã và đang triển khai các nỗ lực chiến lược nhằm đạt được Ba kết quả đột phá, tham vọng mang tính chuyển đổi: không có ca tử vong mẹ khi có thể ngăn ngừa, không có nhu cầu kế hoạch hóa gia đình nào không được đáp ứng, không bạo lực dựa trên cơ sở giới và không có bất cứ thực hành nào có hại ví dụ như tảo hôn và lựa chọn giới tính trên cơ sở định kiến giới.Tại Việt Nam, UNFPA phối hợp cùng Chính phủ và các đối tác để xóa bỏ bạo lực giới và các thực hành có hại thông qua việc củng cố hệ thống ứng phó quốc gia, thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa và đảm bảo dịch vụ hỗ trợ cho người bị bạo lực. Một số hoạt động trọng tâm bao gồm:· Trung tâm Dịch vụ một cửa (OSSCs): UNFPA hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thành lập OSSCs - mô hình tích hợp cung cấp dịch vụ y tế, hỗ trợ tâm lý, tư vấn pháp lý và nơi tạm lánh cho phụ nữ, trẻ em gái bị bạo lực.· Đường dây nóng 1800 1768: Tổng đài quốc gia, miễn phí 24/7, do Hội Nông dân Việt Nam vận hành với sự hỗ trợ của UNFPA trong khuôn khổ dự án VNM10P05. Đường dây nóng:
● Tiếp nhận các cuộc gọi khẩn cấp, đảm bảo an toàn và hỗ trợ ngay lập tức cho nạn nhân
● Cung cấp thông tin về luật pháp, chính sách và dịch vụ liên quan đến bạo lực giới
● Tư vấn tâm lý và hỗ trợ tinh thần
● Kết nối nạn nhân với các dịch vụ y tế, pháp lý, công an và xã hội khi cần thiết
● Đảm bảo bảo mật, tôn trọng, không phân biệt đối xử và đặt nạn nhân làm trung tâmThông tin chi tiết, vui lòng truy cập: https://vietnam.unfpa.org/en/topics/gender-equality-women-empowerment
● Tiếp nhận các cuộc gọi khẩn cấp, đảm bảo an toàn và hỗ trợ ngay lập tức cho nạn nhân
● Cung cấp thông tin về luật pháp, chính sách và dịch vụ liên quan đến bạo lực giới
● Tư vấn tâm lý và hỗ trợ tinh thần
● Kết nối nạn nhân với các dịch vụ y tế, pháp lý, công an và xã hội khi cần thiết
● Đảm bảo bảo mật, tôn trọng, không phân biệt đối xử và đặt nạn nhân làm trung tâmThông tin chi tiết, vui lòng truy cập: https://vietnam.unfpa.org/en/topics/gender-equality-women-empowerment
1 of 5
Latest Resources
1 / 11
Nguồn lực
03 tháng 11 2025
Nguồn lực
14 tháng 5 2025
Nguồn lực
25 tháng 10 2024
Nguồn lực
25 tháng 7 2024
Nguồn lực
02 tháng 4 2024
Nguồn lực
16 tháng 3 2023
1 / 11